I. Bình chữa cháy bằng bột

1.1. Cấu tạo

- Vỏ bình làm bằng thép hàn, hình trụ đứng, phía bên ngoài thường được sơn màu đỏ hoặc màu khác, trên vỏ có dán nhãn mác ghi các thông số, đặc điểm, kỹ thuật của bình như tên bình chữa cháy, ký hiệu bình, thành phần chất chữa cháy có bên trong bình, cách sử dụng, ứng dụng chữa cháy, cách bảo quản và tên địa chỉ của hãng sản xuất.

- Phía trên thân bình là cụm van. Cụm van thường được làm bằng hợp kim đồng, cụm vạn này có thể tháo ra hoặc lắp vào trong khi nạp lại bột và khí sau khi sử dụng. Gắn với cụm van ở phía trong bình là ống xiphông bằng nhựa dùng để dẫn bột từ đáy bình ra ngoài.

- Ở cụm van, phía ngoài là vòi phun làm bằng cao su và loa phun bằng nhựa cứng.Giữa tay xách và van bóp là chốt hãm có kẹp chì của nhà sản xuất để bảo vệ chất chữa cháy ở trong bình. Hình ảnh cụm van bình bột chữa cháy.

- Trong bình có chứa bột và khí đẩy, khí đẩy dùng để đẩy chất chữa cháy ra ngoài. Khí đẩy thường là Nito hoặc CO2. Bột chứa bên trong bình có các thành phần hóa học khác nhau tùy thuộc vào chủng loại của từng loại bình, bột có thể được tạo thành từ NaHCO3 (bột BC) hoặc (NH4)3PO4 (bột ABC), Có các loại: MF, MFZ, MFZL, MFZT, PG, LP, Angus, Tyco, Ansul-Senty...

- Một số loại bình bột chữa cháy phổ biến:

+ Loại bình có bình khí đẩy riêng: Bình khí đẩy có thể đặt ở trong...; khí đẩy CO2 được chứa trong bình thép đúc.

+ Loại bình không có bình khí đẩy riêng mà nạp khí trực tiếp vào bình bột, khí đẩy được sử dụng là N2 nạp trong cùng bình bột. Đối với loại bình này, cổ bình nhỏ, Trên cụm van có gắn áp kế để đo áp suất của khí bên trong bình. 

+ Loại bình bột chữa cháy xe đẩy. Do có trọng lượng lớn nên bình được gắn vào một giá đẩy gồm hai bánh xe có thể di chuyển dễ dàng.

- Một số ký hiệu thường gặp của bình bột chữa cháy

A - Nhóm đám cháy các loại chất rắn (gỗ, vải, cao su...).

B - Nhóm đám cháy chất lỏng (xăng, dầu...).

C - Nhóm đám cháy chất khí (metan, axetilen...).

D, M - Nhóm đám cháy kim loại.

E, - Nhóm đám cháy thiết bị điện có điện áp đến 50KV.

9B 9A: diện tích dập cháy tương ứng nhóm đám cháy.

1.2. Ứng dụng chữa cháy (phạm vi sử dụng)

- Bình chữa cháy là phương tiện chữa cháy ban đầu được trang bị tại chỗ, độ tin cậy cao, dùng để dập tắt các đám cháy mới phát sinh có diện tích nhỏ.Tuỳ theo từng loại bột, bình bột chữa cháy có thể dập tắt được các đám cháy mới phát sinh:

+ Bình bột "BC": sử dụng dập tắt đám cháy chất lỏng, khí cháy và thiết bị điện.

+ Bình bột "ABC": sử dụng dập tắt các đám cháy chất rắn, lỏng, khí cháy và đám cháy điện, thiết bị điện.

+ Bình bột "M" để dập tắt các đám cháy kim loại tinh khiết.

- Sử dụng bình chữa cháy: Khi có cháy xảy ra, nhanh chóng đến vị trí đặt bình chữa cháy, xách bình đến đám cháy, trên đường xách bình phải lắc xóc bình cho bột trong bình tơi ra. Khi đến gần đám cháy cách đám cháy khoảng 3 - 1,5m thì dừng lại giật kẹp chì, rút chốt, chọn đầu hướng gió, hướng loa phun vào gốc lửa và bóp van hay vặn van (đối với loại bình có bình khí đẩy đặt bên ngoài thì mở van bình khí đẩy). vừa phun vừa tiến lại gần. Khi lửa tắt hẳn mới ngừng phun.

Những điểm cần chú ý:

- Đọc kỹ hướng dẫn, nắm rõ tính năng, tác dụng của từng loại bình để bố trí chữa các đám cháy cho phù hợp.

- Tuỳ từng loại đám cháy mà chọn vị trí và khoảng cách đứng phun cho phù hợp. Khi phun phải đứng đầu hướng gió (đối với đám cháy ngoài), đứng gần cửa ra vào (đối với đám cháy trong).

- Khi bóp van phải dứt khoát, không được ngừng phun khi đám cháy chưa được dập tắt.

- Khi phun phải giữ bình ở tư thế thẳng đứng.

- Đối với các đám cháy chất lỏng cháy, phải phun bao phủ lên bề mặt, tránh phun xục trực tiếp xuống chất lỏng làm chúng bắn ra ngoài gây cháy lan.

- Bình bột chữa cháy đã qua sử dụng (dù ít hay nhiều) cũng phải nạp lại. Bình đã qua sử dụng phải để riêng tránh nhầm lẫn.

- Đối với bình bột chữa cháy loại xe đẩy, tốt nhất cần hai người sử dụng: mở van bình trước, sau đó bóp van ở lăng phun.

1.3. Cách bảo quản

- Để nơi dễ lấy, dễ thấy, không ảnh hưởng đến lối và đường thoát nạn.

- Để bình đứng, ở nơi thoáng mát, Không để bình ở những nơi có nhiệt độ nằm ngoài giới hạn nhiệt độ ghi trên bình, hoặc đặt ở nơi có nhiệt độ cao toả ra từ các nguồn nhiệt hay các thiết bị sinh nhiệt, tránh ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp. Nếu để ngoài nhà phải có mái che.

- Khi di chuyển bình tránh va đập mạnh.

1.4. Kiểm tra bình chữa cháy

- Phải kiểm tra bình trước khi đưa vào sử dụng, trong quá trình sử dụng phải thường xuyên kiểm tra bình theo quy định của nhà sản xuất hoặc kiểm tra theo định kỳ ít nhất 1 tháng/lần nhằm:

+ Xem bình chữa cháy có được đặt đúng quy định hay không;

+ Không bị che chắn, dễ thấy, dễ lấy và nhãn mác hướng dẫn cách sử dụng quay ra bên ngoài.

+ Kiểm tra áp kế để theo dõi áp lực khí đẩy trong bình. Áp kế được chia làm ba vạch màu cơ bản (đỏ, xanh, vàng):

+ Khi áp xuất chỉ ở giới hạn vạch màu đỏ: Áp suất khí đẩy trong bình hết, không đẩy bột ra bên ngoài được.

+ Khi áp xuất chỉ ở giới hạn vạch màu xanh: Áp suất khí đẩy trong bình đạt tiêu chuẩn, đủ để đẩy bột ra bên ngoài.

+ Khi áp xuất chỉ ở giới hạn vạch màu vàng: Áp suất khí đẩy trong bình vượt quá giới hạn mức quy định, bình có khả năng bị nổ.

- Kiểm tra sự thông suốt của vòi phun, không để vòi phun bị gập, gãy hoặc vỡ. Nếu vòi phun bị lỏng phải xiết chặt vào cụm van.

II. Bình chữa cháy bằng khí

2.1. Cấu tạo

- Vỏ bình làm bằng thép đúc, hình trụ đứng, phía bên ngoài thường được sơn màu đỏ, màu nhũ trắng hoặc màu khác, trên vỏ có dán nhãn mác ghi các thông số, đặc điểm, kỹ thuật của bình như tên bình chữa cháy, ký hiệu bình, thành phần chất chữa cháy có bên trong bình, cách sử dụng, ứng dụng chữa cháy, cách bảo quản và tên địa chỉ của hãng sản xuất.

- Phía trên thân bình là cụm van: Cụm van thường được làm bằng hợp kim đồng.Gắn với cụm van ở phía trong bình là ống xiphông bằng nhựa dùng để xả khí ra ngoài khi chữa cháy, không có đồng hồ áp kế.Ở trên cụm van có gắn van an toàn, van an toàn làm việc khi áp suất trong bình tăng quá mức quy định. Van sẽ xả khí ra ngoài đảm bảo an toàn.

- Loa phun làm bằng kim loại, nhựa hoặc cao su; kích cỡ tùy thuộc từng loại bình và thường to hơn so với bình bột chữa cháy. Vòi phun thường được làm bằng nhựa cứng hoặc hợp kim nhôm. Gắn giữa vòi phun và loa phun là khớp nối tay cầm được làm bằng gỗ hoặc nhữa cách nhiệt. Giữa tay xách và van bóp là chốt hãm có kẹp chì của nhà sản xuất để bảo vệ chất chữa cháy ở trong bình.

- Chất chữa cháy trong bình là khí CO2, N2, Ar, FM, He... có các loại sau: MT, CDE, MTT, OY, GS6X, TYPE...; xon khí (freon, aerezon) có thành phần chính là các dẫn xuất halogen của cacbonhyđro, có các loại sau: OA1, OA3...

- Một số loại bình chữa cháy phổ biến:

+ Bình chữa cháy xách tay bằng khí CO2. Hình ảnh minh họa kèm theo:

- Bình chữa cháy xe đẩy bằng khí CO2. Do có trọng lượng lớn nên bình được gắn vào một giá đẩy gồm hai bánh xe có thể di chuyển dễ dàng. Cụm van của bình có cấu tạo kiểu van vặn.

2.2. Ứng dụng chữa cháy (phạm vi sử dụng)

- Bình khí chữa cháy: Dập tắt các đám cháy chất rắn; đám cháy chất lỏng, đám cháy chất khí, đám cháy điện, các thiết bị điện; đám cháy thiết bị điện tử…...

- Bình loại này thích hợp cho các đám cháy trong buồng, phòng, hầm, nơi kín khuất gió; không hiệu quả khi chữa những đám cháy ngoài trời hay nơi thoáng gió vì CO2 khuếch tán nhanh trong không khí.

Lưu ý chữa cháy:

Không dùng bình khí CO2 để dập tắt các đám cháy than hay kim loại nóng đỏ. Vì CO2 sẽ bị phân hủy theo phương trình:CO2 + C = 2CO và CO + M = MO + CO; CO là khí độc và rất dễ nổ.

2.3. Cách sử dụng

Khi có cháy xảy ra, nhanh chóng đến vị trí đặt bình chữa cháy, xách bình đến đám cháy. Khi đến gần đám cháy thì dừng lại giật kẹp chì, rút chốt, chọn đầu hướng gió, hướng loa phun vào gốc lửa (càng gần gốc lửa càng tốt). và bóp van hay vặn van (đối với loại bình có van vặn thì mở van) để khí tự phun ra. Khi lửa tắt hẳn mới ngừng phun. Hình ảnh minh họa kèm theo.

Những điểm cần chú ý:

- Đọc kỹ hướng dẫn, nắm rõ tính năng, tác dụng của từng loại bình để bố trí chữa các đám cháy cho phù hợp.

- Đối với từng loại đám cháy mà chọn vị trí và khoảng cách phun cho phù hợp. Khi phun phải đứng đầu hướng gió (đối với đám cháy ngoài), đứng gần cửa ra vào (đối với đám cháy trong).

- Khi bóp van phải dứt khoát, (Đối với van nặn phải mở hết van) không được ngừng phun khi đám cháy chưa được dập tắt.

- Đối với các đám cháy chất lỏng cháy, phải phun bao phủ lên bề mặt, tránh phun xục trực tiếp xuống chất lỏng làm chúng bắn ra ngoài gây cháy lan.

- Khi phun tùy thuộc vào từng đám cháy mà chọn vị trí, khoảng cách phun cho phù hợp và phải chọ đầu hướng gió khi phun.

- Khi phun chỉ được cầm vào phần nhựa, gỗ đề phòng bị bỏng lạnh.

- Trong phòng kín, trước khi phun phải báo cho mọi người ra hết khỏi phòng, phải dự trù lối thoát ra sau khi phun. Nếu có mặt nạ nên sử dụng.

- Khi chữa cháy các thiết bị điện lưu phải sử dụng găng tay và ủng cách điện mặc dù CO2 không dẫn điện.

- Bình đã qua sử dụng phải để riêng tránh nhầm lẫn.

- Đối với bình CO2 chữa cháy loại xe đẩy, tốt nhất cần hai người sử dụng.

2.4. Kiểm tra

Phải kiểm tra bình trước khi đưa vào sử dụng, trong quá trình sử dụng phải thường xuyên kiểm tra bình theo quy định của nhà sản xuất hoặc kiểm tra theo định kỳ ít nhất 1 tháng/ lần nhằm:

- Xem bình chữa cháy có được đặt đúng quy định hay không.

- Không bị chở ngại, dễ nhìn thấy và nhãn mác hướng dẫn cách sử dụng quay ra bên ngoài.

 - Cân và ghi trọng lượng bình để đối chiếu với trọng lượng ban đầu nếu lượng CO2 giảm quá 1/ 4 thì phải nạp bổ sung.

- Kiểm tra sự thông suốt của vòi phun, không để vòi phun bị gập, gãy hoặc vỡ. Nếu vòi phun bị lỏng phải xiết chặt vào cụm van.

III. Bình bọt hóa học chữa cháy

3.1. Cấu tạo

Vỏ bình (B) làm bằng thép hình trụ, phía trên có nắp đậy và đế hãm. Nắp làm bằng nhựa hay thép, có miệng phun và quai xách.Bên trong có một bình nhỏ (A) bằng nhựa hoặc bằng thủy tinh có vòng hãm để giữ cố định bình với vỏ thép, trong bình thép có chứa thuốc B - bicacbonatnatri (NaHCO3), trong bình nhựa chứa thuốc A - nhôm sunphat (Al2(SO4)3). Khi chữa cháy hai chất này kết hợp với nhau tạo thành bọt và áp suất để đẩy bọt ra ngoài dập tắt đám cháy.

3.2. Ứng dụng chữa cháy

Bình bọt chữa cháy dùng để chữa cháy các đám cháy xăng dầu, mỡ, axêton, benzen... với diện tích 1,5m2 trở xuống. Ngoài ra còn sử dụng để chữa cháy các đám cháy chất rắn cháy.

3.3. Cách sử dụng

Khi có cháy xảy ra nhanh chóng đến nơi để bình, tay phải xách vào quai, tay trái đỡ đáy bình mang đến nơi xảy ra cháy. Lấy ngón tay bịt chặt miệng bình. Lật ngược bình và xốc mạnh để hai thứ thuốc hòa trộn với nhau. Hướng miệng vòi vào điểm cháy và thả ngón tay bịt miệng.

Những điểm cần lưu ý:

- Khi phun phải đứng trước chiều gió.

- Không phun bọt lên bề mặt vật đang cháy mà phải phun để bọt tràn phủ lên vật cháy.

- Khi phun phải phun hết mới thôi (vì phản ứng giữa hai chất A, B sẽ xảy ra đến hết).

3.4. Bảo quản bình bọt chữa cháy

- Để nơi dễ lấy, dễ thấy, không ảnh hưởng đến lối và đường thoát nạn.

- Để bình đứng, ở nơi thoáng mát, tránh xa nguồn nhiệt và thiết bị sinh nhiệt, tránh ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp. Nếu để ngoài nhà phải có mái che.

- Khi di chuyển bình phải giữ nguyên tư thế, tránh va đập mạnh, không để các thuốc trong bình hòa trộn vào nhau.

- Phải kiểm tra bình bọt chữa cháy theo định kỳ.

- Phải giữ vòi phun trong suốt.

3.5. Cách kiểm tra

- Phải kiểm tra bình trước khi đưa vào sử dụng, trong quá trình sử dụng phải thường xuyên kiểm tra bình theo quy định của nhà sản xuất hoặc kiểm tra theo định kỳ ít nhất 1 tháng/ lần nhằm:

+ Xem bình chữa cháy có được đặt đúng quy định hay không

+ Không bị chở ngại, dễ nhìn thấy và nhãn mác hướng dẫn cách sử dụng quay ra bên ngoài

- Kiểm tra sự thông suốt của vòi phun, không để vòi phun bị gập, gãy hoặc vỡ. Nếu vòi phun bị lỏng phải xiết chặt vào cụm van.

- Trước mỗi lần nạp mới và sau 5 năm sử dụng, vỏ bình phải được kiểm tra thủy lực. Sau khi đạt yêu cầu mới được phép sử dụng.

IV. Bình chữa cháy tự động bằng bột kiểu treo

4.1. Cấu tạo

Do đây là một dạng biến thể của bình chữa cháy MFZ nên nó có những ưu điểm của loại bình này. Ngoài ra do bình có gắn cảm biến nên khi đạt đến một giá trị nhiệt độ nhất định, bột trong bình sẽ được phun ra.

4.2. Ứng dụng

Sử dụng tốt nhất ở những nơi có tính độc hại, không có người thường trực và có nguy cơ xảy ra cháy cao như: kho xăng dầu, kho hóa chất, trạm điện...Thời gian dập cháy nhanh, đối với các đám cháy xăng dầu thời gian này nhỏ hơn 10 giây. Loại bình này dùng để bảo vệ cục bộ theo diện tích hoặc thể tích. 

4.3. Kiểm tra

Kiểm tra bình ít nhất 1 năm/ lần, nội dung kiểm tra tương tự bình bột chữa cháy.

V. Một số dụng cụ chữa cháy thô sơ

5.1. Chăn chữa cháy

- Chăn dùng trong chữa cháy thường là loại làm bằng sợi cotton (thường là chăn chiên), dễ thấm nước, có kích thước thông thường là (2,0 x 1,5)m hoặc (2,0 x 1,6)m.

- Khi phát hiện ra cháy cần nhúng chăn vào nước để nước thấm đều lên mặt chăn rồi chụp lên đám cháy để ngăn cách đám cháy với môi trường bên ngoài (tác dụng làm ngạt), không cho ôxy của môi trường vào vùng cháy. Sở dĩ phải nhúng chăn vào nước trước khi chữa cháy là để sợi bông nở ra làm tăng độ kín trên bề mặt chăn, hơn nữa khi chăn được thấm nước sẽ có tác dụng làm giảm nhiệt độ của đám cháy dẫn đến đám cháy bị dập tắt. Khi dập lửa, hai tay cầm chắc hai góc tấm chăn, giơ cao lên phía trước che mặt rồi nhanh chóng phủ kín đám cháy, đám cháy sẽ được dập tắt.

5.2. Cát, (thùng đựng cát + xẻng xúc cát)

- Cát có nhiệt độ nóng chảy từ 1.710oC đến 1.725oC nên có khả năng thu nhiệt lớn. Khi đưa cát vào đám cháy, một mặt cát hấp thụ nhiệt, làm hạ nhiệt độ của đám cháy, mặt khác cát phủ lên đám cháy tạo ra một màng ngăn cách ôxy với đám cháy làm cho lửa tắt (tác dụng làm ngạt). Cát là chất chữa cháy dễ kiếm, rẻ tiền và sử dụng chữa cháy rất đơn giản.

- Cát thường được dùng để chữa các đám cháy chất lỏng rất có hiệu quả. Cát còn có tác dụng bao vây, ngăn cách chất lỏng cháy không cho tràn ra xung quanh, gây cháy lan. Tại các cơ sở xăng dầu, các phòng thí nghiệm, các kho hoá chất...người ta thường dự trữ cát để chữa cháy.

- Để phục vụ cho việc chữa cháy có hiệu quả, cát thường được bố trí trong các thùng, phuy, bể hoặc chứa trong các hố sâu trên mặt đất gần đối tượng cần bảo vệ. Để dập cháy, đưa cát vào đám cháy, tại nơi chứa cát còn phải bố trí xẻng xúc cát hoặc xô, thùng để múc cát đưa vào đám cháy. Xẻng, xô, thùng thường được sơn màu đỏ để chỉ dẫn dùng vào mục đích chữa cháy.